Tăng cường hiệu quả điều trị nhiễm khuẩn Gram âm đa kháng ở trẻ em

Thứ ba - 18/11/2025 16:42 2.074 0
Ngày 18/11, Bệnh viện Nhi Thái Bình (tỉnh Hưng Yên) tổ chức Hội nghị tập huấn chuyên môn với chủ đề “Cập nhật sử dụng kháng sinh ở bệnh nhân nhiễm khuẩn Gram âm đa kháng”. Hội nghị có sự tham dự của lãnh đạo bệnh viện cùng đông đảo bác sĩ, điều dưỡng và cán bộ y tế từ các khoa phòng.
Tăng cường hiệu quả điều trị nhiễm khuẩn Gram âm đa kháng ở trẻ em
BSCKII Vũ Thanh Liêm - Phó Giám đốc Bệnh viện Nhi Thái Bình phát biểu tại hội nghị.
     Phát biểu khai mạc hội nghị, BSCKII Vũ Thanh Liêm – Phó Giám đốc Bệnh viện Nhi Thái Bình nhấn mạnh: nhiễm khuẩn Gram âm đa kháng đang là thách thức lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả điều trị và an toàn người bệnh. Với đặc điểm diễn biến nhanh, nguy cơ tử vong cao, trong khi nhiều kháng sinh thông dụng dần mất tác dụng, việc cập nhật kiến thức và thực hành sử dụng kháng sinh hợp lý là yêu cầu cấp thiết với đội ngũ y tế. Đồng chí khẳng định bệnh viện luôn chú trọng phát triển chuyên môn, cập nhật phác đồ điều trị, đẩy mạnh xét nghiệm vi sinh và ứng dụng các kháng sinh mới khi cần thiết nhằm tối ưu kết quả điều trị cho trẻ.
     Tại hội nghị, PGS.TS. Dược sĩ Vũ Đình Hòa – Phó Giám đốc Trung tâm DI & ADR Quốc gia, Trường Đại học Dược Hà Nội đã trao đổi chuyên đề “Dược lý lâm sàng trong điều trị vi khuẩn Gram âm đa kháng ở trẻ em”. Báo cáo chỉ ra tình trạng gia tăng đáng báo động của vi khuẩn Gram âm đa kháng trên toàn cầu và tại Việt Nam, đặc biệt ở nhóm bệnh nhi nặng phải thở máy, đặt catheter hoặc điều trị tại các đơn vị hồi sức. Các chủng thường gặp như Klebsiella pneumoniae, Pseudomonas aeruginosa, Acinetobacter baumannii ghi nhận tỷ lệ kháng carbapenem lên tới 55–71%, kéo theo tỷ lệ tử vong cao hơn nhiều so với các chủng nhạy cảm.
2
 
3
PGS.TS. Dược sĩ Vũ Đình Hòa - Phó Giám đốc Trung tâm DI & ADR Quốc gia, Trường Đại học Dược Hà Nội đã trao đổi chuyên đề
     PGS.TS. Hòa nhấn mạnh nguyên tắc tối ưu hóa liều kháng sinh dựa trên dược động học, dược lực học (PK/PD), đặc biệt trong nhiễm khuẩn nặng ở trẻ em. Với nhóm beta-lactam, truyền kéo dài hoặc truyền liên tục giúp tăng thời gian nồng độ thuốc vượt MIC, cải thiện hiệu quả diệt khuẩn, đặc biệt hữu ích trong các chủng giảm nhạy cảm. Các kháng sinh mới như ceftazidime/avibactam, ceftolozane/tazobactam hay imipenem/relebactam được đánh giá có vai trò quan trọng trong điều trị các chủng Gram âm đa kháng. Bên cạnh đó, PGS.TS. Hòa nhấn mạnh vai trò của các thuốc “cũ” như colistin, aminoglycoside, fosfomycin… trong một số tình huống đặc biệt, song cần theo dõi độc tính chặt chẽ và giám sát nồng độ thuốc.
     Tiếp đó, BSCKII Hoàng Tiến Thành – Trưởng Khoa Hồi sức tích cực Bệnh viện Nhi Thái Bình trình bày báo cáo “Tình hình đề kháng kháng sinh của vi khuẩn Gram âm tại Bệnh viện Nhi Thái Bình”. Trong giai đoạn từ tháng 7/2024 đến 6/2025, bệnh viện thực hiện 15.217 mẫu nuôi cấy, trong đó 7,5% cho kết quả dương tính, với tỷ lệ vi khuẩn Gram âm chiếm 51%. Các chủng thường gặp nhất gồm: Haemophilus influenzae (51,8%), E. coli (21,3%), Pseudomonas aeruginosa (9,1%) và Klebsiella pneumoniae (3,6%). Tại đơn vị Hồi sức tích cực, tỷ lệ phân lập Pseudomonas aeruginosa và E. coli chiếm lần lượt 33,67% và 31,63%.
4
BSCKII Hoàng Tiến Thành - Trưởng Khoa Hồi sức tích cực Bệnh viện Nhi Thái Bình trình bày báo cáo
     Báo cáo cũng cho thấy mức độ đề kháng cao của nhiều chủng vi khuẩn. Haemophilus influenzae kháng mạnh với ampicillin (92%), cefixime (85%); E. coli đề kháng cao với cefotaxime, ceftriaxone (70–77%) nhưng vẫn nhạy tốt với fosfomycin, aminoglycoside và carbapenem (97–99%). Với Pseudomonas aeruginosa, piperacillin–tazobactam, amikacin và colistin cho tỷ lệ nhạy cảm cao hơn so với nhóm cephalosporin. Các số liệu này là cơ sở quan trọng giúp bác sĩ lựa chọn phác đồ điều trị phù hợp và theo dõi hiệu quả kháng sinh đồ tại bệnh viện.
     Hội nghị tập huấn là dịp để cán bộ y tế cập nhật kiến thức mới, tăng cường ý thức sử dụng kháng sinh hợp lý, dựa trên chỉ định và bằng chứng vi sinh. Bệnh viện Nhi Thái Bình cam kết tiếp tục tăng cường xét nghiệm vi sinh, cập nhật phác đồ điều trị, sử dụng các kháng sinh mới khi phù hợp, đồng thời đẩy mạnh chương trình quản lý sử dụng kháng sinh (AMS) nhằm nâng cao hiệu quả điều trị và giảm thiểu nguy cơ kháng thuốc.

Tác giả bài viết: Bá Mạnh (PCTXH)

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

PHẦN MỀM NGHIỆP VỤ
qllichmo  qllichtruc  lichcongtac
 
bieudokhambenh      csgb  dm dichvukythuat
TRA CỨU VÀ TIỆN ÍCH
VBCDTHY
MVPTB2023
MVPTB2024 2025
lichcongtacsythungyen

truycappacs
tracuukqpacs
khaosatykienbnnt
khaosatykienbnngt
kbngoaivien
qldaotao
tailieuso 1
baocaosucoykhoa

Thống kê truy cập
  • Đang truy cập17
  • Máy chủ tìm kiếm2
  • Khách viếng thăm15
  • Hôm nay4,294
  • Tháng hiện tại114,707
  • Tổng lượt truy cập16,310,449
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây